Tìm kiếm nhanh:

Những người bị tước quyền thừa kế.

Ngày đăng: 17-12-2012
 
 Khoản 1, Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định cụ thể các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế. Đó là các trường hợp:

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
 
Như vậy, đối với các trường hợp thừa kế theo pháp luật, chỉ cần người hưởng thừa kế có các hành vi quy định tại Khoản 1, Điều 643, BLDS 2005 là sẽ bị tước quyền hưởng thừa kế. Tuy nhiên, theo khoản 2, Điều 643 cũng quy định những trường hợp này vẫn được hưởng di sản thừa kế, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
 
Còn việc tước quyền thừa kế theo nội dung di chúc chỉ xảy ra với trường hợp người được hưởng thừa kế theo di chúc có một trong các hành vi tại Khoản 1, Điều 643 mà người để lại di sản không biết hành vi của những người đó hoặc hoặc họ không kịp sửa đổi di chúc mà nguyên nhân chính là hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người bị tước quyền hưởng thừa kế.
 
 Di chúc là ý chí cuối cùng của một người trước khi chết về việc phân định tài sản của mình. Nội dung di chúc có thể là viêc phân chia, định đoạt cụ thể các phần di sản, nhưng cũng có thể chỉ là một định hướng chung cho việc phân chia di sản, chẳng hạn như để lại toàn bộ tài sản cho các con…Khi người để lại di sản loại bỏ quyền thừa kế của một người trong hàng thừa kế thứ nhất hoặc một người đã từng được cho hưởng thừa kế ở bản di chúc trước ( Dù người này có hay không vi phạm Khoản 1, Điều 643, BLDS 2005) thì đây không được gọi là hành vi "tước quyền thừa kế" mà là "truất quyền thừa kế". Tuy nhiên, người bị truất quyền thừa kế sẽ chỉ mất quyền thừa kế với phần di sản bị truất quyền hưởng thừa kế và vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật với các phần di sản khác chưa được định đoạt của người chết. được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
 

Tin liên quan

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế được quy định như thế nào?
Ngày đăng: 14-10-2012
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp nào?
Ngày đăng: 14-10-2012
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: Không có di chúc; Di chúc không hợp pháp; Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc ...
Việc xác định di sản thừa kế được quy định như thế nào?
Ngày đăng: 14-10-2012
Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong tổ chức kinh tế khác ... Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân. Công dân có quyền lập di chúc để định đoạt tài s...
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp nào?
Ngày đăng: 26-10-2012
Theo quy định tại Điều 675 BLDS thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp sau:  a. Không có di chúc: Trường hợp không có di chúc là trường hợp người để lại thừa kế không để lại di chúc miệng hay di chúc bằng văn bản đối với phần tài sản của mình, do đó phần tài sản n&#...
.
.
.
.