Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp nào?
Ngày đăng: 14-11-2012
Theo quy định tại Điều 675 BLDS thì
thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp sau:
a. Không có di chúc: Trường hợp không
có di chúc là trường hợp người để lại thừa kế không để lại di chúc miệng hay di
chúc bằng văn bản đối với phần tài sản của mình, do đó phần tài sản này sẽ được
phân chia cho những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.
b. Di chúc không hợp pháp: Thừa kế
theo pháp luật trong trường hợp di chúc không hợp pháp xảy ra khi di chúc của
người để lại thừa kế không đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về di chúc
tại Điều 652 BLDS, do đó di chúc trở nên vô hiệu.
Điều 652. Di chúc hợp pháp
1. Di chúc được coi là hợp pháp
phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn,
sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái
pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười
lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được
cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3. Di chúc của người bị hạn chế
về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành
văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có
công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được
quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp
pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất
hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký
tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.
Việc quy định các điều kiện để di
chúc có hiệu lực pháp luật có những ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo di chúc
phản ánh một cách chính xác ý chí của người để lại di sản. Điều này sẽ tránh
được tình trạng người để lại di sản vì bị bị ép buộc, lừa dối, đe dọa dẫn đến
không phản ánh đúng nguyện vọng và ý muốn chủ quan của mình. Đồng thời các quy
định trên đây cũng đảm bảo di chúc phù hợp với đạo đức và pháp luật, tránh sự
giả mạo, thay thế nhằm thay đổi di chúc trái với ý chí của người để lại di sản.
c. Di chúc cũng vô hiệu khi những
người được hưởng thừa kế theo di chúc đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người để lại di chúc; tổ chức, cơ quan được hưởng thừa kế không còn tồn tại
vào thời điểm mở thừa kế. Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, quy định này
hoàn toàn hợp lý, bởi những người đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người để lại di chúc, tổ chức và cơ quan đã chấm dứt sự tồn tại đều không có tư
cách chủ thể trong các quan hệ dân sự theo Điều 14 và Điều 86 của BLDS vì vậy
không thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ thừa kế.
Vì sự vô hiệu này nên phần di sản của người để lại di chúc sẽ được tiến hành
chia theo quy định của pháp luật.
d. Việc thừa kế theo pháp luật cũng
áp dụng đối với trường hợp những người thừa kế theo di chúc không có quyền
hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Người thừa kế theo di chúc mà không có
quyền hưởng di chúc là những người có hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với
người để lại di chúc, những người hưởng thừa kế theo di chúc khác hoặc có những
hành vi khiến người để lại di chúc không phản ánh đúng được nguyện vọng, ý chí
của mình. Các trường hợp này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 643 BLDS:
Điều
643.
Người không được quyền hưởng di sản
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm
phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để
lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người
thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó
có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để
lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di
chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di
sản.
Tuy nhiên, thừa nhận
quyền tự quyết của người để lại di chúc, pháp luật cũng quy định người vi phạm
vào những quy định trên đây vẫn có quyền hưởng thừa kế theo di chúc nếu người
để lại di chúc đã biết các hành vi trên mà vẫn đồng ý cho họ hưởng thừa kế theo
di chúc. (khoản 2, Điều 643 BLDS).
Đối với người từ chối
nhận thừa kế theo di chúc, họ phải thể hiện việc từ chối nhận di sản này bằng
văn bản, phần di sản mà họ từ chối nhận sẽ được chia theo các quy định của pháp
luật. (Điều 642 BLDS).
e. Phần di sản không được định đoạt trong di chúc cũng được chia thừa kế
theo các quy định của pháp luật. Đây là phần tài sản hợp pháp của người để lại
thừa kế, tuy nhiên vì lý do nào đó mà phần tài sản này không được đề cập đến
trong di chúc. Việc chia thừa kế phần tài sản này theo quy định của pháp luật
nhằm đảm bảo tính công bằng, hợp lý về quyền lợi của những người hưởng thừa kế.
g. Phần di sản có liên quan đến phần không có hiệu lực pháp luật của di
chúc là phần tài sản được đề cập đến trong di chúc, tuy nhiên phần di chúc đó
không được coi là hợp pháp ( phần di chúc đó không đảm bảo được các điều kiện
tại Điều 653 BLDS, tuy nhiên các phần còn lại của di chúc thì vẫn có hiệu lực).
Do đó phần tài sản này sẽ được chia theo quy định thừa kế của pháp luật.
Tin liên quan
Ngày đăng: 14-10-2012
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Ngày đăng: 14-10-2012
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: Không có di chúc; Di chúc không hợp pháp; Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc ...
Ngày đăng: 14-10-2012
Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong tổ chức kinh tế khác ... Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân. Công dân có quyền lập di chúc để định đoạt tài s...
Ngày đăng: 26-10-2012
Theo quy định tại Điều 675 BLDS thì
thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp sau:
a. Không có di chúc: Trường hợp không
có di chúc là trường hợp người để lại thừa kế không để lại di chúc miệng hay di
chúc bằng văn bản đối với phần tài sản của mình, do đó phần tài sản n...




