Việc xác định di sản thừa kế được quy định như thế nào?
Ngày đăng: 14-11-2012
Di sản thừ kế của
người chết được quy định tại Điều 634 BLDS như sau:
Điều 634. Di sản
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của
người chết trong tài sản chung với người khác.
Căn cứ vào quy định này, di sản của
người chết được xác định bao gồm:
1. Tài sản riêng của người chết.
Đây là phần tài sản của người đó tạo
lập hoặc được tặng cho, thừa kế một cách hợp pháp khi người đó còn sống. Phần
tài sản này phải mang tính độc lập với các tài sản thuộc sở hữu chung như tài
sản chung vợ chồng.
2. Tài sản của người chết trong tài
sản chung với người khác.
Phần tài sản này nằm trong khối tài
sản chung với một hoặc nhiều người khác, vì vậy, khi tiến hành chia thừa kế,
phải xác định giá trị khối tài sản của người chết trong khối tài sản chung trị
giá bao nhiêu, đồng thời cũng phải căn cứ vào các quy định, điều lệ của những
tổ chức mà người chết đã góp vốn vào để chia thừa kế cho phù hợp.
a. Tài sản chung vợ chồng.
Tài sản chung vợ chồng thuộc loại tài
sản chung hợp nhất, theo đó khi người để lại thừa kế qua đời, phần tài sản của
người đó sẽ được xác định là một nửa trong khối tài sản chung mà người đó đã
tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.
b. Tài sản chung theo phần.
Đây là phần tài sản mà khi còn sống,
người để lại thừa kế sở hữu một phần tài sản xác định trong khối tài sản chung
với người khác. Dạng tài sản này thường là các loại vốn góp, hoa lợi, cổ tức,
cổ phần… mà người để lại thừa kế đã tham gia góp vốn, tạo lập với các đồng sở
hữu khác. Khi phân chia thừa kế đối với loại tài sản này, ngoài việc xác định
phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với nhiều người khác, còn
phải căn cứ vào các nguyên tắc, điều lệ về sử dụng tài sản chung để chia thừa
kế một cách hợp lý, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các sở hữu chung còn
lại.
c. Tài sản thuộc sở hữu chung hỗn
hợp.
Loại tài sản này thường được xác định
là tài sản của người để lại thừa kế trong khối tài sản sở hữu chung hỗn hợp do
nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi
nhuận. Đối với loại tài sản này, việc xác định khối tài sản của người chết để
chia thừa kế phải căn cứ vào điều lệ, nguyên tắc phân chia hoa lợi, lợi nhuận
của đơn vị sản xuất mà người này tham gia góp vốn.
Tin liên quan
Ngày đăng: 14-10-2012
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Ngày đăng: 14-10-2012
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: Không có di chúc; Di chúc không hợp pháp; Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc ...
Ngày đăng: 14-10-2012
Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong tổ chức kinh tế khác ... Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân. Công dân có quyền lập di chúc để định đoạt tài s...
Ngày đăng: 26-10-2012
Theo quy định tại Điều 675 BLDS thì
thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp sau:
a. Không có di chúc: Trường hợp không
có di chúc là trường hợp người để lại thừa kế không để lại di chúc miệng hay di
chúc bằng văn bản đối với phần tài sản của mình, do đó phần tài sản n...




